Hiển thị các bài đăng có nhãn văn hóa nhật bản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn hóa nhật bản. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 9 tháng 4, 2013

văn hóa Nhật Bản

Len lỏi vào những con ngõ Nhật Bản để ngắm Geisha, dự tiệc trà... và cảm nhận sâu sắc về đất nước hoa anh đào.
1. Tiệc trà truyền thống
Tiệc trà truyền thống Nhật Bản là một truyền thống vô cùng cổ xưa của đất nước hoa anh đào. Mỗi bước và chi tiết trong quá trình pha, uống trà đều phải theo bốn tiêu chí: hài hòa, tôn trọng, trong sạch và bình thản.

Người tổ chức tiệc trà muốn truyền đến cho những khách uống trà một trải nghiệm về sự trong sáng, bình thản trong tâm hồn. Tất cả mọi yếu tố trong phòng trà đều hòa hợp với nhau để nói lên điều này: từ đồ ăn đi kèm, đồ dùng để uống trà tới những bức tranh trên tường.



Rất nhiều khách du lịch đã lựa chọn tham gia vào một tiệc trà truyền thống khi đến Kyoto, thành phố được cho là thanh lịch và cổ xưa nhất Nhật Bản. Loại trà mà người Nhật Bản thường dùng trong các tiệc trà này là loại Matcha có vị đắng nhần nhận, những loại đồ ngọt nhỏ sẽ được ăn kèm để đối với vị chát của Matcha. 

2. Geisha
Những geisha hiện đại ở Nhật là một nét quyến rũ độc đáo, đặc biệt là ở thành phố Kyoto. Geisha, những người ca kỹ bán nghệ nhưng không bán thân đã rất phổ biến từ thế kỷ 19 và vẫn còn tiếp tục hoạt động cho đến ngày nay. 
Đến Kyoto, bạn có thể gặp Geisha trong các câu lạc bộ tư hoặc trên đường phố vào buổi sáng sớm hay chiều muộn. 

3. Núi Phú Sỹ
Phú Sỹ là ngọn núi cao nhất Nhật Bản. Đó là một ngọn núi lửa đang ngủ say và lần phun trào gần nhất của nó đã cách đây 300 năm. Đây là một trong những cảnh quan biểu tượng của đất nước Nhật Bản và được coi là một trong ba ngọn núi thần thánh.

Du khách đến Nhật Bản có thể dễ dàng tham gia vào các tour leo núi Phú Sỹ. Mỗi năm, ngọn núi thần này đón tới 300.000 du khách tham quan, vào mùa leo núi tháng 6 đến tháng 8. Vào những mùa khác trong năm, tuyết rơi rất dày và thời tiết thay đổi thất thường nên bộ môn leo núi cũng tạm ngưng.
4. Thử rượu Sake
Loại rượu gạo độc nhất vô nhị này là quốc túy của Nhật Bản. Cách pha chế rượu đã được phát hiện từ ngàn năm trước và đến nay vẫn đóng một vai trò quan trọng trong văn hóa và tín ngưỡng Nhật. Trong mọi lễ hội tổ chức tại các đền chùa Nhật, đều có sự có mặt của rượu Sake.

Rượu Sake là để nhâm nhi và thưởng thức. Có hàng trăm nhà máy sản xuất Sake ở Nhật Bản với hương vị khác nhau. Mỗi loại rượu lại yêu cầu cách bảo quản khác nhau: nóng, lạnh hay ở nhiệt độ phòng. Chính vị vậy, du khách đến Nhật thường được khuyên tham gia vào các khóa huấn luyện thử rượu Sake để hiểu thêm về loại rượu phổ biến nhất đất nước này.
5. Sushi
Có lẽ món ăn được xuất khẩu nhiều nhất trên thế giới của Nhật Bản là sushi. Món sushi cuộc truyền thống này được bán ở tất cả mọi cửa hàng trên khắp nước Nhật với nhiều chủng loại khác nhau. Du khách đến Nhật có nhiều cách để tìm hiểu sushi: nếm chúng trong các nhà hàng hoặc đi học một khóa làm sushi cơ bản.


6. Vật Sumo
Sumo là môn thể thao và là một truyền thống được toàn dân Nhật Bản tôn vinh. Nó là môn thể thao dân tộc. Với lịch sử hàng trăm năm về trước và gắn liền với nhiều hoạt động tôn giáo, các trận Sumo thường tượng trưng cho những yếu tố tôn giáo. Các đấu sĩ phải tuân thủ chế độ vô cùng nghiêm ngặt, chẳng khác gì những người thanh tu.
7. Onsen
Onsen hay các hồ tắm nước nóng ở Nhật Bản là một trải nghiệm khó quên với du khách. Những nhà tắm truyền thống mọc lên ở mọi ngóc ngách của đất nước Phù Tang, một số là các nhà tắm ngoài trời, tắm thác và tắm bùn. Nước khoáng từ các suối khoáng Nhật được cho là rất có lợi cho sức khỏe.

8. Văn hóa giới trẻ hiện đại 
Nhật Bản có một lịch sử và truyền thống lâu đời, nhưng nó cũng nổi tiếng với khía cạnh văn hóa hiện đại đầy màu sắc và ấn tượng.
Hãy ghé qua những con phố ở Tokyo và bạn sẽ hiểu rõ hơn về đời sống của các nhóm thanh niên Nhật Bản. Đặc biệt là ở con phố Harajuku, nơi người trẻ mặc thời trang Cosplay tựa như nhân vật trong phim hoạt hình, truyện tranh và thể nghiệm đủ mọi phong cách mà các kinh đô thời trang thế giới như Anh, Pháp đều phải tâm phục khẩu phục.
 Mọi chi tiết vui lòng liên hệ:

Lễ hội búp bê Hina Matsuri

Hina Matsuri là một lễ hội đặc biệt dành cho các bé gái được tổ chức vào những ngày cuối đông sắp sang xuân. Du hoc Hiền Quang xin giới thiệu về lễ hội này đến cùng các bạn yêu thích văn hóa Nhật Bản.
Người Nhật hầu như không có khái niệm gì về ngày Quốc tế Thiếu Nhi 1/6. Ở Nhật, người ta tổ chức lễ hội cho các bé trai và bé gái vào hai ngày khác nhau. Ngày của các bé gái được tổ chức vào ngày 3/3 và ngày của các bé trai là ngày 5/5 hàng năm.
Ngày của các bé gái ở Nhật còn được gọi là ngày Hội búp bê. Vào ngày này, những gia đình có con gái sẽ trưng bày những búp bê Hina để cầu nguyện cho con gái mình lớn lên khỏe mạnh, bình an & hạnh phúc. Búp bê Hina thường chỉ được trưng bày trong một ngày này và được dọn cất đi ngay sau đó vì người ta tin rằng nếu trưng bày đến sau ngày 4/3 thì con gái mình sẽ bị muộn chồng.
Người Nhật gọi ngày hội này là Hina Matsuri, Matsuri có nghĩa là lễ hội, còn Hina có nghĩa là chim non hay còn có nghĩa là trẻ con. Lễ hội này còn được gọi là Momo-no-sekku (桃の節句) vì đầu tháng 3 còn là thời điểm hoa đào nở rộ ở Nhật.
Lễ hội này được cho là bắt nguồn từ thời Bình An (Heian) ở Nhật. Vào thời đó, các bé gái ở các gia đình quý tộc ở cố đô Kyoto có tổ chức những trò chơi tao nhã với búp bê. Khi đó sự kiện này chưa được tổ chức thành lễ hội mà chỉ đơn thuần là trò chơi của các bé thôi, nên người ta chỉ gọi là Hina Asobi (ひいな遊び) hay Asobigoto (遊びごと). Đồng thời, vào thời này cũng xuất hiện nghi thức thả búp bê bằng giấy xuống sông để cầu an, cầu cho những rắc rối, xui xẻo sẽ trôi theo dòng nước. Vì vậy, lễ hội Hina Matsuri được cho là kết hợp của 2 hoạt động trên.
Đến thời Gianh Hội (Edo) thì lễ hội vốn chỉ được tổ chức cho tầng lớp quý tộc ở thủ đô này được phổ biến rộng khắp cả nước. Người ta cũng quyết định lấy ngày tiết cú tháng 3 để tổ chức lễ hội, và tất cả mọi người đều có thể ăn mừng.
 girl day pic4
Tùy vào cách chế tạo mà búp bê Hina được phân thành 2 loại, loại Kimekomi và loại Ishochaku. Kimekomi (木目込み) là loại búp bê mà y phục được làm bằng cách khắc/dán vải trực tiếp vào hình nhân. Còn với loại Ishochaku (衣裳着) thì y phục được làm riêng, sau đó mới mặc vào cho hình nhân. Loại nào cũng có nét đặc trưng riêng và đều được làm hết sức tỉ mỉ, tinh xảo.
Ngoài ra, búp bê Hina còn được phân loại theo số búp bê có trong một bộ. Theo đó, có 3 bộ, bộ gồm 2 búp bê, bộ 5 búp bê và bộ từ 7-15 búp bê.
Theo truyền thống, một bộ búp bê đầy đủ nhất bao gồm 15 búp bê & được trang trí trên một kệ 7 tầng được phủ thảm đỏ:
- Tầng trên cùng là Vua & Hoàng Hậu (được gọi là Dairibina). Nếu nhìn chính diện thì Vua được đặt bên trái và Hoàng hậu được đặt bên phải. Sau lưng Vua & Hoàng hậu là một bức bình phong gọi là Byobu (屏風). Ở hai bên là 2 cây đèn đứng gọi là Bonbori (雪洞), thường có hoa văn là hoa anh đào hoặc hoa đào. Trước mặt Vua & Hoàng hậu là Sanpokazari và Hishidai. Sanpokazari là hai bình hoa được cắm hai nhánh hoa đào. Hishidai là hai bệ đựng Omochi (một món ăn truyền thống của Nhật, gần giống như bánh dày của Việt Nam vậy) gọi là Hishi-mochi. 5 lớp Hishi-mochi trên Hishidai có hình dạng như viên kim cương & có màu sắc tươi sáng khác nhau tượng trưng cho sắc màu mùa xuân.
- Tầng thứ 2 gồm 3 búp bê, là 3 cung nữ hầu rượu sake (Sannin-kanjo, 三人官女). Người ở giữa ngồi, còn 2 người ở hai bên thì đứng. Ở giữa 3 người này là 2 Takatsuki, loại bàn đứng được đặt Omochi hình tròn (Maru-mochi), 2 tầng trắng & hồng.
- Tầng thứ 3 gồm 5 búp bê (Gonin-bayashi). Đây là 5 nhạc công nam, 3 người chơi trống, 1 người thổi sáo, và người cầm quạt là ca sĩ.
- Tầng thứ 4 là 2 búp bê Đại thần (Zuijin). Nếu nhìn trực diện thì bên phải phải là Đại thần già, và bên trái là Đại thần trẻ :)
- Tầng thứ 5 gồm 3 búp bê (Sannin-jichou), là hộ vệ cho Vua & Hoàng hậu khi đi ra ngoài. Phía hai bên được trang trí bằng một chậu hoa đào và một chậu quất.
- Tầng thứ 6 & tầng dưới cùng dùng để trang trí nhiều vật dụng khác nhau.
girl day pic5
girl day pic6
Một bộ đầy đủ là vậy nhưng không phải ai cũng có khả năng sắm nguyên bộ như vậy được! Để phù hợp với điều kiện của từng gia đình, người ta làm nhiều bộ búp bê với kích thước khác nhau. Phương án tiết kiệm nhất thì chỉ cần trang trí búp bê Vua & Hoàng hậu thôi cũng được (^_^)
girl day pic9
Thời gian: Diễn ra vào ngày 3/3.
Nguồn gốc: Từ xa xưa, ở Nhật Bản đã có tập quán làm sạch cơ thể để xua đuổi những điều không may mắn vào những lúc giao mùa. Nguồn gốc của tập quán này bắt nguồn từ một lễ hội tương tự của Trung Quốc cũng bắt đầu vào tháng 3.
Nội dung: Vào ngày này người ta sẽ làm những con búp bê hình người để gửi những điều rủi ro hay bệnh tật vào đấy và mang ra sông thả trôi đi.
Vào ngày Hina Matsuri, để cầu phúc và may mắn cho những bé gái trong gia đình, người ta sẽ trang trí búp bê Hina. Búp bê Hina là một loại búp bê đặc biệt rất xinh đẹp và là biểu tượng cho vua và hoàng hậu cùng những cận thần, được truyền từ đời này sang đời khác qua nhiều thế hệ. Chúng được trưng bày trong căn phòng đẹp nhất của gia đình một vài ngày trong kỳ lễ hội và sau đó được cất giữ cẩn thận trong hộp cho đến kỳ lễ hội của năm sau. Một bộ búp bê Hina gồm có ít nhất 15 con trong trang phục truyền thống.
Ngày nay, Hina Matsuri trở thành một dịp cho cả gia đình tập hợp cùng ra ngoài và tận hưởng khí trời khi mùa xuân mới sắp về.
Vào ngày Hina Matsuri, để cầu phúc và may mắn cho những bé gái trong gia đình, người ta sẽ trang trí Búp bê Hina. Búp bê Hina là một loại búp bê đặc biệt rất xinh đẹp và là biểu tượng cho vua và hoàng hậu cùng những cận thần. Búp bê Hina là những vật trang trọng, được truyền từ đời này sang đời khác qua nhiều thế hệ. Chúng được trưng bày trong căn phòng đẹp nhất của gia đình một vài ngày trong kỳ lễ hội và sau đó được cất giữ cẩn thận trong hộp cho đến kỳ lễ hội của năm sau. Trong những gia đình khá giả, bố mẹ cũng thường mua tặng cho con gái mới sinh của họ một bộ búp bê để chuẩn bị cho ngày Hina Matsuri.
Một bộ búp bê Hina gồm có ít nhất 15 con trong trang phục truyền thống. Đứng đầu là Dairi-sama tương trưng cho hoàng đế và hoàng hậu được phục trang bằng những bộ quần áo đắt tiền nhất bằng vải tơ tằm. Chúng được hộ tống bởi 2 búp bê đại tướng còn được gọi là Zuishin và 3 búp bê nữ cận thần.Hai đại tướng là người đi theo bảo vệ hoàng đế. Nhìn về hướng phải là là một vị tướng lão thành, còn nhìn về hướng trái là một vị tướng trẻ. Ba vị nữ cận thần là những người dạy đàn, hát và dạy học cho công chúa. Nếu nhìn kỹ bạn sẽ thấy có 1 vị không có chân mày. Theo tập quán xưa, phụ nữ khi đã lấy chồng sẽ cạo lông mày và nhuộm răng đen nên vị cận thần này có lẽ là vị cao tuổi nhất. Ở hàng tiếp theo là 5 nhạc công goninhayashi và hàng cuối cùng là 3 người chuyên làm tạp dịch, có các gương mặt giận, buồn và cười thể hiện tình cảm rất phong phú. Sau khi hiểu câu chuyện này, bạn hãy  thử quan sát lại bục trang trí, trí tưởng tượng của bạn sẽ vẽ ra thêm rất nhiều điều thú vị đấy.
Các tập tục trong ngày Hina Matsuri
 Ngày Hina Matsuri là một trong số rất ít những dịp mà các bé gái Nhật có được những buổi tiệc riêng dành cho chúng. Đó là dịp các bé gái có thể mời bạn bè đến nhà cùng thưởng thức những món ăn và bánh kẹo được dâng cho các búp bê.
girl day pic1
Có lúc các bé cũng tự mình chuẩn bị những món ăn đó. Chúng cùng uống rượu ngọt Shirozake, ăn bánh hishi-mochi và các loại kẹo trái cây, xôi đỗ – sekihan, các loại thạch v.v.. Các món ăn đều đuợc cho các màu sắc phong phú màu xanh, hồng, trắng và được chế biến từ các loại lá cỏ tốt cho sức khỏe nhằm xua đuổi bệnh tật
girl day pic2
Trong ngày này người Nhật thường chưng hoa đào nên Hina Matsuri còn có tên là Momo-no-sekku (Lễ hội hoa đào). Hoa đào tượng trưng cho cuộc hôn nhân hạnh phúc, là biểu tượng không thể thiếu trong ngày lễ này. Ngoài ra hoa đào còn là biểu tượng cho những đức tính của người phụ nữ : điềm tĩnh, nhẹ nhàng, ôn hòa, quý phái.
girl day pic3
Ngày nay, mỗi năm đến dịp Hina-matsuri, các gia đình Nhật vẫn giữ truyền thống trang trí búp bê. Những con búp bê gia truyền được người Nhật trân trọng và các cô dâu khi về nhà chồng cũng được cho mang theo như một bảo vật hộ mệnh của gia đình
Một số hình ảnh về búp bê Hina.
Girl day 1Girl day 2Girl day 3Girl day 4Girl day 5Girl day 6Girl day 7Girl day 8Girl day 9girl day pic7girl day pic8girl day pic10girl day pic11
girl day pic12

Nghệ thuật trà đạo Nhật Bản (Phần 3)

Mỗi khi nhắc đến Nhật Bản, việc người ta nhắc đến là Trà đạo, hay ngược lai: nói đến Trà đạo là người ta nghĩ ngay đến đất nước mặt trời mọc không có gì phải ngạc nhiên. Trà đạo đó là niềm tự hào của người Nhật. 

CÁC DỤNG CỤ PHA TRÀ



1. Kama (nồi đun nước): quai xách rời sẽ tháo ra khi vào buổi trà đạo. Nước từ ấm sẽ được lấy ra bằng Shaku để rót vào bát.


2. Tetsubin (ấm đun nước): thích hợp với kiểu pha trà rót nước trực tiếp từ ấm đun vào bát.
3. Chawan (bát trà): Có thể nói là thứ đặc trưng và giành được sự yêu quý và quan trọng nhất của Trà đạo. Có rất nhiều loại bát khác nhau, nhưng với những trà nhân Nhật Bản xưa kia cũng như ngày nay, bát trà gắn liền với tên tuổi của họ, bên cạnh sự yêu thích về nghệ thuật còn là sự ngưỡng mộ về lịch sử và văn hoá. Bát trà được các trà nhân yêu quý như chính bản thân họ vậy. Bởi vậy việc một bát trà có giá trị bằng một căn nhà đối với người hiểu về bát, cũng không có gì là lạ.

Bát trà được làm bằng gốm. Chất liệu được ưa thích không phải là những chiếc bát tròn vẹn bóng bẩy kiểu Trung quốc, mà là những chiếc bát thô sơ giản dị, và hơn nữa là được làm bằng tay. Chiếc bát trà thậm chí lại không tròn, phù hợp với lý tưởng của trà đạo là “ tìm kiếm sự toàn vẹn trong cái bất toàn”. Ở Nhật bản có rất nhiều dòng gốm nổi tiếng theo từng vùng, nhưng với các trà nhân Nhật Bản thì : “nhất Raku, nhì Hazi, ba là Karatsu”.
- Hagiyaki: lò gốm tại huyện Yamaguchi của Nhật. 

Bát của Hazi có đặc trưng là màu hồng nhạt, chân đế thường được cắt hình tam giác.

- Karu: do dòng họ Karu tại Kyoto sản xuất, bằng tay và không dùng bàn xoay. Đặc trưng là được phủ men đậm hoặc nâu đỏ, xương gốm mềm và thô.

- Karatsu:sản xuất tại saga và nagasaki trong đảo Kyashu. đặc trưng là xương gốm phủ áo trắng, trang trí hoa văn đơn giản bằng sắc màu nâu.
 - Ngoài ra có rất nhiều loại bát khác nhau, mang những đặc trưng riêng đã được đặt tên như: Mishima, Kohiki, Hakeme,Tenmokuyu… Gốm sứ Việt nam cũng rất được các trà nhân ưa chuộng ngay từ thế kỉ 15, là thế kỷ phát triển rực rỡ của Trà đạo. Khi đưa một bát trà cho khách, nếu bát có khắc hoa văn thì hoa văn luôn được hướng về phía khách chính để tỏ lòng hiếu khách. Đây cũng là một trong những nét lễ nghi đặc trưng của Trà đạo: “Hoà-kính- thanh- tịnh”.
4. Natsume (hộp đựng trà): Làm từ gỗ sơn mài, cũng mang những nét đặc trưng riêng của từng trà nhân giống như bát vậy. Natsume có thể được trang trí hoa văn bên ngoài và trong buổi trà đạo hoa văn này được quay về phía những nơi trang trọng nhất. Trà trước khi cho vào Natsume phải được lọc cẩn thận để không vón cục ảnh hưởng đến hương vị. Trà trong Natsume được trình bày theo hình núi Phú Sỹ, vốn là biểu tượng của Nhật bản.



5. Chasen (dụng cụ pha trà): Được làm bằng tre một cách công phu và cũng là một dụng cụ đặc trưng cho cách pha trà bát, hay trà bột. Chasen mới và các tua tre phải đều, thì bát trà pha ra mới ngon, đều và đẹp mắt.




6. Chasaku (thìa xúc trà):Làm bằng tre, dùng để múc trà ra bát. Giữa cán Chasaku là khấc tre, và người cầm Chasaku không được cầm quá khấc này, để đảm bảo tính vệ sinh của trà. Cũng là một nét đặc trưng trong tính lễ nghi của Trà đạo.




7· Chakin (khăn lau): Làm từ vải trắng, để lau bát trước khi pha trà. Chakin luôn phải sạch và ẩm, nhưng không được ướt, và phải là màu trắng.

8. Shaku (gáo múc nước): Dùng để múc nước nóng từ kama vào bát, hoặc châm thêm nước lạnh từ ngoài vào nồi. Các quy tắc sử dụng Shaku đã tạo ra những nét hấp dẫn rất đặc trưng cho kiểu pha trà này, từ cách cầm dụng cụ, cách di chuyển đến tiếng nước róc rách chảy từ Shaku xuống bát trà.




9. Futaoki: Đi kèm shaku là futaoki, là dụng cụ kê nắp kama khi mở.




10. Kensui: Là dụng cụ để nước bẩn, có thể làm bằng các chất liệu như tre, gốm… nhưng trong phòng trà luôn nằm ở vị trí sau để đảm bảo sạch sẽ.


Nghệ thuật trà đạo Nhật Bản


Những người Nhật thích uống trà thường thành lập những nhóm nhỏ, chọn ngày mời nhau cùng thưởng thức. Số người tham gia mỗi lần không vượt quá 4 người và hoàn cảnh tổ chức một buổi trà đạo cũng có những quy định đặc biệt.




Những gia đình khá giả thường cho xây ba căn phòng nhỏ trong vườn riêng nhà mình, hai phòng nối liền nhau, trong đó một phòng là phòng trà - nơi tổ chức trà đạo, phòng kia đặt than, bộ đồ trà và vòi nước. Phòng còn lại là nơi nghỉ ngơi của khách, phải cách hai phòng kia một khoảng nhất định. Trong vườn có những con đường nhỏ lát đá, quanh co với hai bên trồng hoa và cây cảnh làm cho không gian trong vườn yên tĩnh và thanh nhã. Bố trí trong phòng trà cũng rất được chú ý. Thông thường là treo tranh của các danh họa nổi tiếng, có hoa cắm nghệ thuật để khách mời được thưởng thức nghệ thuật mang hương sắc cổ kính.

Thời gian tổ chức trà đạo chia ra làm 4 loại: trà sáng (7h sáng), sau ăn cơm (8h sáng), giữa trưa (12h trưa) và câu chuyện buổi tối (6h tối). Khách mời đúng giờ đến phòng nghỉ, gõ vào chiếc chuông gỗ báo hiệu đã đến. Chủ nhà nghe tiếng chuông sẽ từ phòng trà ra đón khách. Trước cửa phòng trà có đặt một chiếc cối đá đựng đầy nước, khách phải rửa sạch tay trước khi vào phòng. Cửa ra vào có một ô cửa cao gần 3 thước để khách tháo giày đi vào. Khi bước vào phòng phải khom mình tỏ ý khiêm tốn. Nếu khách là võ sĩ thì phải tháo kiếm trước mới được bước vào để biểu thị không khí hòa bình. Trong số khách, người tinh thông trà đạo được cử làm người chủ trì. Người chủ trì phải cạo trọc đầu để biểu thị sạch sẽ, thanh khiết. Trong phòng trà, một góc chiếu có đặt bếp lò và nồi nước bằng gốm, trước bếp đặt bộ đồ trà. Bộ đồ trà phải thô, nặng có men màu cam hoặc đen đậm dáng vẻ cổ kính. Trong khi chủ nhân đun nước thì khách dùng điểm tâm. Món điểm tâm này hết sức tinh tế phải được làm căn cứ vào thời tiết. Ví dụ: tổ chức trà đạo vào mùa thu thì món điểm tâm phải làm giống như lá phong hoặc hoa cúc.Trà để pha là loại bột trà xanh được chế biến cẩn thận bằng cách giã nát trongcối đá - người Nhật gọi là nghiền trà.

NGHỆ THUẬT PHA TRÀ


Có hai cách pha trà: Pha đặc và Pha loãng. Trà đặc thông thường ba người thay nhau uống một bát, mỗi người ba hớp rưỡi hết 1/3 bát. Trà loãng mỗi người uống riêng một bát. Trà đặc có màu xanh đậm, hương thơm hơi chát. Chủ nhân múc hai muôi gỗ trà cho vào bát, đổ nước sôi, dùng que trúc khuấy đều để trà có nước đặc như bột đậu. Bát đầu tiên mời người chủ trì, người chủ trì nâng bát trà ngang trán rồi mới uống. Khi uống phải chép miệng để tỏ ý thực sự được thưởng thức trà ngon của chủ nhân. Khi tất cả khách uống xong thì nghi thức trà đạo cũng kết thúc. Nhưng đôi khi còn một nghi lễ cao hơn là ăn cơm , thường sau khi uống trà. Tuy gọi là cơm thường nhưng cũng thịnh soạn.
1. Nước pha trà: Tuyệt đối không bao giờ lấy nước đang sôi để pha trà , có nghĩa là không thể nào dùng nước đang sôi trong bình đổ vào bình pha trà. Lý do là trông không đẹp mắt và nhất là tất cả các loại trà Nhật bản (trà xanh, trà bột dùng trong lễ dâng trà (Sadoo) không bao giờ dùng nước đang sôi! Nước pha trà phải được đựng trong một bình thủy (uống trà thông thường) hay nước được nấu trong một cái ấm kim khí không nắp trên bồn than rất yếu để giữ nước ở khoảng 80-90oC..

2. Làm ấm dụng cụ: Ấm pha trà và tách uống trà được tráng bằng nước sôi trong bình thủy để làm ấm dụng cụ , sau đó dùng khăn lau khô trước khi xử dụng.

3. Cho trà vào ấm pha trà: Thường với lọai trà ngon cỡ trung bình người ta thuờng tính cho mỗi một người khách khoảng một muỗng cà phê trà xanh. Tuy nhiên nếu dưới 3 người khách, nên cho hơn một tí để tránh quá nhạt. Dĩ nhiên với những người ghiền trà, thích uống đậm lại là vấn đề khác!

4. Pha trà: Với loại trà xanh cỡ trung bình, người ta thường pha trà 3 lần khác nhau như sau :
*/ Lần thứ nhất:  Pha với nước nóng ở khoảng 60 độ C, để trà ngấm khoảng 2 phút đồng hồ trước khi rót cho khách.  Nước sôi từ bình thủy được rót ra một cái bình Trà khác (hay chén tổng) để giảm nhiệt độ trước khi cho vào bình pha trà (lý do tại sao sẽ được giải thích ở phần sau).
*/ Lần thứ hai: pha với nước nóng khoảng 80 độ trong khoảng 30-40 giây, có nghĩa là cho nước vào ấm pha trà , hơi lắc nhẹ và rót ra tách cho khách ngay. Nước cũng được rót qua bình trung gian nhưng mau lẹ hơn để có nhiệt độ mong muốn. (Tuy nhiên, những người pha trà quen thuộc, khéo tay họ có thể điều chỉnh nhiệt độ từ bình thủy rót vào bình pha trà bằng các thủ thuật như rót nuớc thật chậm, để cao vòi nước trên bình pha trà...)
*/ Lần thứ ba: Nước pha ở nhiệt độ khoảng 90 độ C, cũng khoảng 30- 40 giây. Nước có thể tuôn trực tiếp từ bình thủy vào ấm trà, vì nước sôi khi qua các giai đoạn rót vào bình thủy, rồi từ bình thủy rót vào ấm pha trà đã có nhiệt độ khoảng 90 độ C .  Với những loại Trà ngon đặc biệt, người ta có thể pha trà lần thứ 4 hay lần thứ 5 (cách thức pha như lần thứ 3) mà nước trà vẫn xanh và còn mùi vị. Nhưng những loại trà xanh hạ phẩm, rẻ tiền việc pha trà hơi khác hơn chút đỉnh. Chẳng hạn lần thứ nhất phải ở nhiệt độ cao hơn (70- 80 độ, 2 phút), lần thứ hai (90 độ, khoảng 1- 2 phút) và không có lần thứ 3 vì hết mùi vị rồi (giải thích ở phần dưới).

5. Lượng nước pha trà: Người pha trà phải biết ước lượng cho bao nhiêu nước pha vào bình trà, không thể pha trà xanh Nhật bản bằng cách cứ cho nước vào đầy bình rồi rót cho khách theo lối pha trà của Tầu hay VN được . Mà phải biết dung tích của tách uống trà và số tách để cho đúng lượng nước để mỗi lần rót trà cho khách phải hết trọn vẹn nước trong bình pha trà. Nếu còn sót lại sẽ làm giảm phẩm chất của lần uống trà kế tiếp vì sai nhiệt độ, vì oxy hoá làm mất mầu xanh đẹp của trà..v..v..

6. Cách rót trà: Không bao giờ rót trà cho khách một lần đầy tách rồi rót tiếp cho người khách kế tiếp!  Làm như vậy sẽ có sự khác biệt về độ đậm nhạt của nước trà trong mỗi tách, cũng như không đều về lượng trong mỗi tách (tách đầu tiên quá nhiều, tách cuối cùng rất ít, quá đậm vì thời gian trà ngấm ra nhiều hơn hay không còn nước cho người kế tiếp)! Vì vậy tất cả các tách của khách đều được để trong khay trà rồi rót theo thứ tự 1, 2, 3, 4... rót lần đầu khoảng 30ml (cho mỗi tách, cỡ lớn 70ml), sau đó rót lần thứ hai với thứ tự ngược lại 4, 3, 2 ,1 mỗi lần khoảng 20ml (cho mỗi tách có tổng cộng 50ml nước trà) nếu còn dư chút ít trong bình ,  nên co dãn để phân đều cho các tách. Sau đó mới đưa mời khách. Chính vì lý do này, người pha trà phải căn làm sao cho đủ (không thiếu,  không thừa) cho tất cả khách, mỗi người khoảng 50ml (với loại tách uống trà cỡ 70-80 ml).
7. Cách uống trà: Khi uống trà xanh Nhật Bản (cũng như uống trà bột trong lễ dâng trà) người Nhật phải ăn một vài loại bánh ngọt để làm gia tăng hương vị của trà. Có thể nói bánh truyền thống của Nhật Bản đã phát triển cùng thói quen uống trà của người Nhật. Trong những lễ hội 4 mùa, người Nhật làm những chiếc bánh hình dáng nhỏ nhắn để thể hiện phong vị thiên nhiên, và bánh thường được thưởng thức cùng với Trà. Bánh truyền thống nổi tiếng được lấy cảm hứng từ vẻ đẹp thiên nhiên, bốn mùa, từ thơ Waka, Haiku (là các thể thơ cổ của Nhật Bản) và cảm hứng từ quê hương.

 Trước khi uống trà, người ta ăn vài miếng bánh (phải ăn hết bánh trong miệng rồi mới uống trà,  không nên vừa ăn vừa uống). Sau đó thỉnh thoảng ăn thêm bánh và uống trà tiếp theo. Vớí cách này sẽ làm gia tăng hương vị của trà xanh một cách lạ kỳ. Uống trà xanh Nhật bản hoàn toàn khác với lối uống nhâm nhi từng tí một trong lối uống trà Tàu của những vị nhà Nho Việt Nam. Người Nhật uống thành ngụm đàng hoàng để có đủ lượng nước trà thấm vào tất cả các màng niêm của miệng. Với những loại trà xanh hảo hạng hay trên trung bình, người Nhật cho rằng nước pha trà lần đầu tiên được coi là đậm đà nhất, làm mùi ngon của trà thấm vào vị giác nhiều nhất. Nước thứ hai, có một khoái cảm khác nhờ nhiệt độ nóng của lần pha này, nước trà mất đi khá nhiều vị đặc biệt của trà nhưng lại có mùi rất thơm bốc lên, kích xúc vào khứu giác. Cả hai lần pha trà này được coi là quan trọng nhất và độc đáo nhất của trà xanh Nhật bản. Với loại trà thượng hạng người ta có thể uống đến lần thứ 4 hay thứ 5 nước trà vẫn xanh và mùi vị vẫn còn. Tuy nhiên loại trà hạ phẩm, người ta bỏ qua lần thứ nhất và bước sang cách pha lần thứ hai hơi đổi khác đôi chút như đã viết ở trên.

 Mọi chi tiết vui lòng liên hệ:    Hotline:   0905234977

Bento- Nghệ thuật cơm hộp ở Nhật

Một nét đặc sắc của nền văn hóa Nhật Bản là ẩm thực. Sau đây Công Ty Hiền Quang sẽ dẫn bạn vào vương quốc của nghệ thuật ẩm thực Nhật Bản.
Xuất hiện từ thời Kamakura năm 1185 cho đến nay, cơm hộp Bento được người dân Nhật Bản rất ưa chuộng, kể cả trẻ con lẫn người lớn. Bento xuất hiện ở các nhà ga, bến xe buýt, trường học, công sở, các chuyến đi picnic du lịch, hay thậm chí là trong các bữa tiệc.
bento
Tôi vốn không thích “cơm cặp lồng” từ hồi còn học đại học bởi “dị ứng” với thứ cơm được lèn chặt đã đóng cứng còn thức ăn thì đã mất hết cả vị khi nguội ngắt. Nhưng chiếc hộp đẹp đẽ còn nóng hổi được phục vụ sau đó đã làm tôi thay đổi quan niệm của mình về cơm hộp.
Trình bày đẹp và chất lượng cao. Đó là hai đặc điểm có thể kết luận ngay về hộp bento. Cơm được làm thành những “viên” gọn gàng, ngon mắt, còn thức ăn thì rất phong phú, nhiều món và nhiều màu sắc. Cái hay của đồ ăn Nhật là dù được hâm nóng hay để nguội thì chất lượng không khác nhau là bao.
 com_hop_bento


Bento là một trong những loại đồ ăn phổ biến ở Nhật Bản vì trẻ em nào cũng phải mang đến trường để ăn trưa. Việc chuẩn bị bento khá cầu kỳ và một chị bạn Việt kiều cho tôi biết, nếu chuẩn bị không đúng cách (của người Nhật) thì con chị sẽ bị chúng bạn… cười chê (?!). Cũng có những cửa hàng bán bento tại chỗ, chuyên giao bento đến tận nơi, chẳng hạn như trường hợp trên của chúng tôi, nhưng bento phổ biến hơn tại các ga tàu điện hay xe bus, dành cho những người đi tàu xe.
Vào thời Kamakura năm 1185 khi nghệ thuật chiên gạo hoshi-li phát triển thì gạo thường được đựng trong chiếc túi nhỏ cho đến năm 1568, những hộp sơn mài bằng gỗ đựng cơm được sản xuất. Thế là Bento ra đời và trở nên phổ biến, nhất là trong lễ hội Hanami (lễ hội ngắm hoa anh đào). Sau này, những hộp cơm bằng gỗ đắt tiền, những hộp kim loại được thay thế bằng những hộp Bento nhựa với đủ màu sắc và hình dạng.
bento2 
Có rất nhiều loại Bento với những mục đích sử dụng khác nhau. Kouraku được dùng trong các buổi dã ngoại picnic, Kamameshi và Ekiben được bán tại các nhà ga… cũng vì thế mà nguyên liệu các loại Bento không giống nhau.
Theo truyền thống, thành phần chủ yếu của một Bento, nói như trong truyện “Tottochan” là bao gồm cả “thức ăn trên rừng và dưới biển”, tức là gồm có gạo, cá và thịt, rau xào hoặc nấu để ăn dặm và món tráng miệng (có thể là hoa quả) được sắp xếp theo tỉ lệ 4:3:2:1 (4 phần cơm, 3 phần thịt cá, 2 phần rau và 1 phần tráng miệng).
Trong một hộp bento tiêu biểu, một nửa là đựng cơm, nửa còn lại được đặt một vài món ăn phụ được làm từ những nguyên liệu như rau, thịt, cá, và trứng. Những món ăn này có rất nhiều hình dáng, và với trí tưởng tượng vô hạn của con người, hộp bento có thể trở nên hấp dẫn hơn, ngộ nghĩnh hơn, thậm chí là một tác phẩm nghệ thuật. Những món ăn phụ phổ biến nhất là một số loại trứng chín, ví dụ như tamagoyaki (trứng tráng được cắt theo hình dải, hoặc hình vuông, thường được thêm muối và đường), trứng rán, trứng luộc, hay trứng tráng với nhiều thành phần khác nhau. Một loại đồ ăn phụ của bento cũng rất được yêu thích là xúc xích. Những người làm bento đôi khi còn tạo hình cho xúc xích để nó giống một con bạch tuộc, hoặc những loài động vật khác, làm cho bữa trưa trở nên thú vị hơn.

Một loại bento phổ biến khác bao gồm cá nướng, thịt rán, bánh cá và rất nhiều loại rau. Những loại rau này có thể bị xé tơi ra, luộc, hoặc hấp; người thường thấy rau chín trong hộp bento hơn là rau tươi sống. Món tráng miệng là một quả táo, hoặc quýt.
bento5
Một nguyên liệu được yêu thích khác của bento là một quả mơ Nhật Bản, hay umeboshi. Người ta tin rằng món ăn truyền thống này sẽ làm tăng mùi vị của cơm, thường được đặt trên đỉnh của một ụ cơm, hoặc giữa một đĩa cơm đầy.
bento6
Hộp đựng cơm của người Nhật cũng được sản xuất khá đẹp và tinh xảo. Hộp thường làm bằng sơn mài. Người làm bento, ví dụ như người mẹ chẳng hạn, sẽ chuẩn bị hộp cơm giống như bà thường làm những món phụ cho bữa ăn thường ngày của gia đình. Bà sẽ lựa chọn loại món ăn phù hợp nhất một cách nhanh chóng và đặt chúng vào một phía của hộp bento. Thật vậy, người mẹ thường tính toán để nấu bữa tối cho gia đình sao cho thừa lại những món ngon để làm hộp bento cho hôm sau.
bento7
Bento được các bà mẹ chuẩn bị mỗi sáng cho con mình đưa đến trường. Việc chuẩn bị Bento khá cầu kỳ và nếu bạn chuẩn bị càng đẹp và ngon mắt thì con bạn càng tự hào.
Món cơm hộp Bento khi được người vợ chuẩn bị với tất cả tấm lòng, sẽ gửi gắm tình yêu, sự lãng mạn và những cảm giác hạnh phúc nơi người chồng, còn được gọi là “aisai bento” – món cơm do “vợ yêu” nấu. Có như vậy, dù là đi đến đâu người đàn ông cũng luôn nhớ về hơi ấm của những hộp cơm gia đình.
bento8

Cũng có những cửa hàng bán Bento tại chỗ, chuyên giao Bento đến tận nơi, cho nhân viên văn phòng, nhưng Bento phổ biến hơn tại các ga tàu điện hay xe bus, dành cho những người đi tàu xe.
bento9
Với người Nhật, một hộp cơm văn phòng hay bữa trưa “cặp lồng” ở trường học cũng được chuẩn bị kỹ càng, trau chuốt như một tác phẩm nghệ thuật vậy. Không chỉ ngon miệng mà còn rất đẹp mắt và bạn sẽ thấy cuộc sống thú vị hơn.
 Mọi chi tiết vui lòng liên hệ:    Hotline: 0905234977